Là người Việt Nam, tôi tin rằng chúng ta có khả năng sáng tạo tương đối vượt trội.

Nếu không sáng tạo, ông cha ta đã không có những trận Bạch Đằng vang danh thiên sử của Ngô Quyền năm 938 đánh đuổi quân Nam Hán, và của Trần Hưng Đạo năm 1288 đánh đuổi quân Nguyên Mông.

Sự sáng tạo được nối dài và phát huy vẻ vang trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc. Đó là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 với sự sáng tạo trong vận chuyển và nghệ thuật bài binh bố trận những trận địa pháo. Đó là trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm bão lửa năm 1972 bắn rơi những pháo đài bay bất khả xâm phạm B52. Đó là đại thắng mùa xuân 1975 thống nhất giang sơn về một mối.

Đây không phải là 1 bài viết bàn luận về lịch sử nên tôi xin quay lại về sự sáng tạo trong thời nay. Khoảng hơn 10 năm qua, công việc của tôi giúp tôi tiếp xúc với rất nhiều phụ huynh và giáo viên. Tôi hay nghe thấy họ than thở và lo lắng: “Bọn trẻ ngày nay như gà công nghiệp, lơ ma lơ mơ, chả biết làm gì ra hồn!” Từ đầu tôi cũng chỉ cười nhạt cho qua, hoặc thậm chí còn bồi thêm vào: “Bọn trẻ giờ nó thế đấy. Sướng quá mà!

Nhưng nghe nhiều tâm sự như thế này quá, tôi bắt đầu trăn trở: “Tại sao?” Và đặc biệt khi được trực tiếp dạy dỗ, trò chuyện và quan sát các em, tôi cũng đã lý giải được một phần nào đó trăn trở “Tại sao?” của mình.

Theo tôi, thứ nhất đó là vì giáo dục trong gia đình. Khi đứa trẻ hỏi người lớn: “Tại sao chú kia xả rác ra đường vậy?”, người lớn sẽ buông câu: “Ai cũng làm vậy mà. Quan tâm làm gì?” Khi đi học, đứa trẻ lại thắc mắc: “Sao bạn kia học không bằng con nhưng được điểm tổng kết cả năm cao hơn con?” Người lớn lại buông lời: “Chắc nhà bạn ấy có phong bì to hơn nhà mình!” Với những lời nói này của người lớn, đứa trẻ sẽ tự nhận thức rằng nó không cần thay đổi hay sáng tạo gì cả, vì có cố cũng chẳng làm được gì tốt hơn.

Cũng trong cuộc sống gia đình, những đứa trẻ hay được người lớn “giáo dục” kiểu như “Con còn bé, biết gì mà nói”, rồi “Trứng còn đòi khôn hơn vịt”. Khi đứa trẻ nhẩy nhót, hát ca, chạy nhảy hoặc hò hét thì chúng được cho là “tăng động”, được đi khám bác sĩ tâm lý và được kê thuốc uống cho bớt múa máy quay cuồng, cho giống người bình thường. Đã bao giờ ta hỏi: ta đã cho con ăn uống thế nào? Hoặc ta đã quan sát và trò chuyện với con thật cởi mở, chân tình để thấu hiểu nó chưa? Hoặc ta đã cùng con phát hiện ra tài năng nào đó như hát, múa, vẽ, vận động,… và động viên, hỗ trợ con mình phát triển những khả năng này?

Rồi có những đứa trẻ thích ở một mình vì chúng hướng nội, thích đọc sách và tư duy một mình, đôi khi lẩm bẩm nói một mình thì bị coi là dở hơi, thậm chí được gán mác là “tự kỷ”. Rồi có những đứa trẻ không thích nói chuyện hay giao tiếp với những người trong nhà vì không tìm được sự thấu hiểu hay tiếng nói chung thì bị quy kết là “máu lạnh”, “nữ hoàng/hoàng tử băng giá”.

Khi đứa trẻ muốn phụ giúp công việc gia đình như nấu nướng, dọn bàn ăn hay rửa chén bát thì nó bị người lớn bảo rằng “Không phải làm gì cả. Việc của con là học cho giỏi”. Thực ra, những người lớn này không tin vào đứa trẻ. Họ sợ chúng sẽ gặp hoặc gây ra tai nạn, họ sợ chúng sẽ làm đổ vỡ các vật dụng, họ sợ chúng không làm tốt, họ sợ chúng bày bừa hơn là dọn dẹp. Sự thiếu tin tưởng của người lớn làm đứa trẻ mất đi sự tự tin vào chính mình. Làm việc nhà là một hành vi thể hiện trách nhiệm cộng đồng, sự quan tâm đến các thành viên trong gia đình, và là cơ hội để kết nối giao tiếp nhưng chỉ vì cái sự học mà người lớn coi là quan trọng, những phẩm chất và nhu cầu trên bị cắt đứt.

Thứ hai, đó là giáo dục ở nhà trường. Khoảng 150 năm trước, giáo dục đại trà (public education) được phát minh ra để phục vụ cho nền công nghiệp 2.0 và 3.0. Nhà trường được tổ chức và sắp xếp như một nhà máy với những dãy bàn ghế như nhau; các em học sinh mặc đồng phục giống nhau; các lớp học được sắp xếp theo độ tuổi bất biết năng lực của người học; những bài kiểm tra và kỳ thi sát hạch dựa vào sự ghi nhớ rập khuôn và những barem chấm điểm cứng nhắc; những giáo trình được soạn thảo một cách khô khan và khuôn mẫu; những sự ca tụng thành tích bề nổi và sáo rỗng; những chuẩn mực dựa trên kỹ năng trả lời cho đúng đáp án và học sao cho trúng tủ; những sự trừng phạt khi người học mắc lỗi do quên kiến thức hay đi lệch chuẩn barem đáp án. Quá trình học tập nhưng thực ra lại là quá trình nhồi nhét và áp đặt.

Mỗi đứa trẻ sinh ra đều sở hữu sự sáng tạo, tò mò. Nhu cầu học tập về thế giới chung quanh là bản năng sinh tồn. Nhưng với quá trình giáo dục như trên, vô hình chung chúng ta vắt kiệt sự sáng tạo, tò mò và suy nghĩ phản biện của học sinh. Vô hình chung chúng ta biến các em thành những con ốc vít. Vô hình chung nhà trường trở thành một xưởng sản xuất khổng lồ, cho ra những sản phẩm đại trà, đồng nhất. Và khi đã là sản phẩm đại trà thì làm gì có sự khác biệt, làm gì có bản sắc riêng, làm gì có thế mạnh nổi bật? Và đã là sản phẩm đại trà được sản xuất hàng loạt thì giá thành sẽ rẻ, rẻ hơn và rẻ hơn nữa. Lúc này, chúng ta đang đua cuộc đua xuống đáy. Làm sao để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình trong cuộc đua xuống đáy này?

Thứ ba, đó là giáo dục xã hội. Con người là động vật xã hội. Phần lớn suy nghĩ, nhận thức và hành vi của con người được quy định bởi xã hội mà họ đang sống. Những thực tế xã hội như “Nhất hậu duệ. Nhì quan hệ. Ba tiền tệ. Cuối cùng mới đến trí tuệ.” làm giảm động lực phấn đấu và sự sáng tạo của những con người tài năng và có tâm với đất nước. Những câu cửa miệng như “Ôi xã hội nó thế ấy mà!” làm sứt mẻ lòng tin và tổn thương ý chí phấn đấu vì một tương lai tốt đẹp hơn. Đảng và Chính phú đã hết sức mạnh tay trong những năm qua để diệt trừ tham nhũng, sự biến chất, thoái hóa đạo đức của đội ngũ lãnh đạo và công chức nhưng còn rất nhiều việc phải làm và phải làm quyết liệt hơn nữa.

Thứ tư, đó là giáo dục tự thân. Ta có thể đổ lỗi cho gia đình, nhà trường và xã hội về con người như ta hiện tại. Nhưng có một giải pháp đó là GIÁO DỤC TỰ THÂN hay học tập suốt đời. Gia đình, nhà trường, xã hội là ngoại cảnh. Đã bao giờ ta dám vượt qua ngoại cảnh, dám LÃNH ĐẠO và làm chủ bản thân mình? Ta chìm đắm vào Facebook, YouTube để giải trí, để câu view, câu like hay ta dành thời gian đọc sách, học tập và nghiên cứu để hiểu về bản thân mình? Ta mải mê “cúng Phây” để đợi like, đợi thả tim hay dành thời gian nói chuyện thân tình với một người bạn? Ta so sánh mình với lũ bạn, với hàng xóm, với đồng nghiệp, với xã hội hay ta đang so sánh mình với chính mình trước đây và nhận thức được rằng ta đang tiến bộ hay thụt lùi? Ta hay chạy theo xu hướng đám đông và hành động theo tâm lý “bầy đàn” hay ta có thể suy nghĩ và hành động độc lập?

Ta đã bao giờ dám bỏ thời gian, công sức, thậm chí tiền bạc để học một kỹ năng nào mới? Ta đã dám đi du lịch một mình đến những mảnh đất mới để khám phá, để trải nghiệm và để thấu hiểu hơn chính mình? Ta đã có kế hoạch hay lộ trình để làm mới năng lực, tư duy của mình? Ta đã dám làm một điều gì đó thú vị mà ta chưa bao giờ dám thử trước đây? Chỉ khi thấu hiểu bản thân và đôi khi dám để bản thân “dở hơi” thì ta mới biết cách sáng tạo. Tôi cũng đã chia sẻ điều này trong video 03 Gợi Ý Giúp Xây Dựng Nội Lực Bản Thân.

Sự sáng tạo – giống như nhiều phẩm chất và kỹ năng cao quý khác – ít khi là do bẩm sinh mà do sự rèn luyện, phấn đấu kiên trì mà thành. Nhưng để sáng tạo, một phần quan trọng và tất yếu là phải mắc lỗi, miễn là lỗi đó không giết chết con người hay ý chí của bạn. Nhưng cả gia đình, nhà trường, xã hội và thậm chí chính bản thân ta đều có xu hướng miệt thị, cười chê hoặc đả kích những người mắc lỗi. Nào là dở hơi, bay bổng, không thực tế, hoặc điên rồ. Người ta chỉ không mắc lỗi khi tuân lệnh hay phục tùng một cách mù quáng, hoặc không làm gì cả. Thực tế là, nếu bạn không sẵn sàng mắc lỗi, bạn sẽ không thể có những phát kiến độc đáo, mới mẻ.

Trong thời đại 4.0 này, sự sáng tạo là kỹ năng sống còn. Nhưng dường như chúng ta vẫn chỉ nói về nó chứ chưa thực sự dám hành động để cổ vũ và hỗ trợ sự sáng tạo. Nếu ta không chịu thay đổi tư duy và hành vi giáo dục trong gia đình, nhà trường, xã hội và của chính mỗi chúng ta thì sự sáng tạo vẫn sẽ chỉ là một khái niệm đẹp nằm trên giấy.

Sự sáng tạo ngày nay giống như kỹ năng tiếng Anh khoảng 20-25 năm trước. Về mặt trí tuệ, ta hiểu được tầm quan trọng của nó. Ta cũng đã cố gắng học nó nhưng dường như không mấy kết quả. Khi công việc cần đến tiếng Anh, hay khi ta có cơ hội du học ở các nước nói tiếng Anh, thì ta lại chạy đôn chạy đáo đi học, đi thi chứng chỉ IELTS, TOEFL hoặc là mua đứt những chứng chỉ này ở chợ đen buôn bán bằng giả. Nhưng tiếc thay, sáng tạo là năng lực thực chất, không phải là cái chứng chỉ để hợp thức hóa. Hãy rèn luyện để phát triển sự sáng tạo của mình ngay từ hôm nay.

Tôi đang sống ở Đà Lạt và tôi rất yêu những cây thông của mảnh đất này. Thời điểm tốt nhất để trồng một cây thông là 20 năm trước, hoặc là bây giờ. Có thể chúng ta chưa trồng cây sáng tạo hoặc cây tiếng Anh của mình 20 năm trước, bây giờ đã là lúc hành động.