Phải chăng chúng ta đang học sai tiếng Việt?” là trăn trở của tôi trong năm 2015 và tôi đã chia sẻ suy nghĩ của mình về một thực tế vào thời điểm đó, cụ thể là:

Thật là SAI LẦM nếu bạn nghĩ bạn kém tiếng Việt là vì bạn không giỏi Ngữ văn? Tại sao chúng ta lại đồng nghĩa giữa Ngôn Ngữ tiếng Việt và Văn học? Tại sao sau 12-16 năm đèn sách mà nhiều học sinh, sinh viên của chúng ta vẫn chưa thể viết tốt một bản báo cáo hay giới thiệu về bản thân một cách tự tin? Tại sao chúng ta TIN RẰNG học Văn kém có nghĩa là VIẾT và NÓI tiếng Việt kém???


Tôi rất mừng khi vài năm qua, bộ Giáo dục đã dần chú trọng hơn về ngôn ngữ tiếng Việt trong giáo trình cũng như trong đề thi. Tôi thấy trong đề Ngữ văn THPT năm 2020, điểm số dành cho phần Tự luận đã được tới 5.0, và phần Phân tích Văn học cũng là 5.0. Như vậy, tỷ lệ giữa tiếng Việt và Văn học đã là 50:50. Tôi mừng vì như thế, những thí sinh không có khả năng cảm thụ hay cảm nhận văn thơ như tôi sẽ có cơ hội để được điểm cao hơn.

Tuy vậy, tôi vẫn thắc mắc: tại sao chúng ta vẫn kết hợp 2 trong 1 thế này? Tại sao không xếp môn Văn học vào với tổ hợp môn Xã hội? Hoặc Văn học sẽ là một môn riêng? Nếu không muốn tách hẳn ra thì tại sao không để tỷ lệ ngôn ngữ tiếng Việt với Văn học là 80:20 hoặc 70:30?

Để lý giải cho khúc mắc trên, tôi mạo muội xin bày tỏ một số nhận định chủ quan của mình:

Một là, tư duy đánh đồng văn thơ và tiếng Việt. Để hiểu về góc độ này, ta cần hiểu một chút về lịch sử. Văn hóa khoa bảng của Việt Nam dựa trên học thuyết Nho giáo, nơi mà các sĩ tử phải học thật thuộc, thật nhuần nhuyễn các tác phẩm văn thơ của các “thánh nhân” đi trước, phải ghi nhớ các luật thơ, luật đối. Ai mà học được chữ “thánh hiền” thì được trọng vọng, được tham gia các kỳ thi khoa cử, đỗ đạt thì được làm quan, đem lại vinh hoa phú quý và danh lợi cho bản thân, gia đình và cả dòng tộc. Hoặc không đỗ đạt thì cũng làm thầy đồ, thầy Nho gõ đầu trẻ hoặc “cho chữ” thiên hạ. Do vậy, cái chữ, đặc biệt là cái chữ ghi nhớ được của các “thánh hiền” là vô cùng quan trọng trong xã hội phong kiến Việt Nam trong gần 1000 năm (tôi tính từ khi nước ta có Văn Miếu Quốc Tử Giám 1070).

Sau giai đoạn phong kiến, chúng ta chuyển sang chữ Quốc ngữ. Lúc này, trên 90% dân số nước ta mù chữ. Chỉ có tầng lớp trí thức mới biết đến cái chữ. Những trí thức Tây học thì ăn trắng, mặc trơn trông rất vương giả. Tầng lớp Nho học thì đang trên đà thoái trào với những phận nhà Nho như “Ông đồ” trong bài thơ của Vũ Đình Liên, vật vã mưu sinh trong buổi giao thời giữa Nho giáo vào văn hóa phương Tây. Tuy vậy, cả 2 loại trí thức Tây học, Nho học đều vẫn được xã hội trong vọng và được coi là tầng lớp bề trên trong giai đoạn này.

Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra, chúng ta tiến lên thời kỳ thơ ca cách mạng. Những tác phẩm văn học, những bài thơ ca ngợi con người cách mạng, tình yêu đất nước, tình đồng chí; vạch trần sự tàn khốc của chiến tranh,.. được công chúng đón nhận vì đó là cách tiếp nhận văn hóa gần như là duy nhất của thời đó. Những tác phẩm văn thơ này thể hiện hơi thở cuộc sống của thời kỳ này, định hướng tư tưởng cho cả một thế hệ sống, lao động và chiến đấu trong thời kỳ chiến tranh gian khổ của cả một dân tộc, do vậy rất quý báu và giá trị. Ai mà được gọi là nhà thơ, nhà văn là oai lắm.

Với suy nghĩ trân trọng, thậm chí tôn sùng văn chương và thơ ca vì lý do lịch sử và chính trị như phân tích ở trên, có thể (tôi nói là có thể) những người làm giáo dục thời đó nghĩ rằng nếu dạy các tác phẩm văn thơ thì các công dân tương lai sẽ “nói ra văn, thở ra thơ”, sẽ sử dụng được ngôn ngữ tiếng Việt một cách linh hoạt. Đây là một suy nghĩ với động cơ tốt và cũng có phần đúng với những ai có khả năng cảm thụ văn chương. Tuy vậy, đến tận bây giờ, việc đánh đồng giữa ngôn ngữ và văn thơ vẫn là một lối mòn tư duy mà những nhà giáo dục ngày nay dường như vẫn mù quáng bước tiếp.

Thực tế cho thấy rằng, coi việc dạy văn thơ là việc dạy ngôn ngữ tiếng Việt không đem lại cho người học khả năng VIẾT một bức thư chuyên nghiệp, một bản CV tuyển dụng ấn tượng, một bản báo cáo dự án; hay khả năng NÓI tự tin và thuyết phục để giới thiệu về bản thân khi đi ứng tuyển công việc hay thực hiện một bài thuyết trình thành công để mang về một hợp đồng kinh tế.

Có thể ai đó nói tôi thực dụng, tôi đồng ý. Học ngôn ngữ tiếng Việt là để giúp ta giao tiếp cả bằng VIẾT và NÓI một cách rành mạch, rõ ràng và thuyết phục. Tiếng Việt giúp ta tư duy sâu sắc những vấn đề của cá nhân và xã hội. Tiếng Việt không phải là để ghi nhớ, học thuộc mà để sử dụng thành thục, sâu sắc, tinh tế và đầy tính thuyết phục. Chúng ta ca ngợi Hồ Chủ tịch về khả năng ngôn ngữ tiếng Việt của Bác. Nhưng có ai yêu cầu bác phải cảm thụ văn học, phân tích hoặc bình giảng một tác phẩm nào đó để trở thành lãnh tụ của dân tộc? Bác viết bài “Con rồng tre” để phê bình xã hội thực dân nửa phong kiến. Bác viết và đọc bản tham luận tại Quốc tế Cộng sản III. Bác kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Bác viết và đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước hàng vạn đồng bào. Bác để lại cho chúng ta bản Di chúc linh thiêng. Tại sao ta không dạy cho con em của chúng ta VIẾT hay NÓI những ngôn ngữ đẹp đẽ, dung dị mà sâu sắc như thế? Tại sao cứ bắt các em học thuộc hết tác phẩm đến cách phân tích/bình luận chúng?

Việc đánh đồng giữa văn thơ và tiếng Việt dẫn đến sự nhồi sọ, thầy đọc trò chép, khả năng học vẹt, là sự học để đối phó. Do vậy ta thường thấy khi thi xong, “phao thi” phủ trắng trường thi. Ta cũng thấy, khi thi xong là thí sinh quên hết kiến thức. Vậy đi học để làm gì? Hệ lụy nghiêm trọng hơn nữa là ta sẽ vô hình chung tạo ra những công dân có xu hướng mưu mẹo, giả dối, đối phó để trục lợi ngắn hạn.

Hai là, tư duy văn học đã ăn sâu vào đội ngũ giảng viên, giáo viên Văn. Họ đã quá quen với những giáo án được soạn sẵn, với việc thầy đọc – trò chép, với lối mòn tư duy về những nhân vật hay tác phẩm. Dễ hơn khi người ta phê phán một xã hội đẩy những thân phận Chí Phèo, chị Dậu hay lão Hạc đến hoàn cảnh cùng cực trước năm 1945; hay lên án một nhân vật hư cấu hoặc đã chết từ lâu. Và khó hơn khi nhìn thẳng, nói thật trong xã hội đương đại vì dễ đụng chạm, sợ bị phán xét, lo bị trù dập, sợ mắc lỗi sai. Khi nói thì toàn phải nói giảm, nói tránh. Học với những người thầy này, học sinh lấy đâu ra tư duy phản biện, tư duy sáng tạo?

Tiếng Việt là ngôn ngữ giúp người Việt khám phá, tìm tòi để thấu hiểu và phát huy trong hơi thở cuộc sống đương đại. Tiếng Việt cần được dạy và học một cách gần gũi, sát thực với dòng chảy xã hội để người Việt yêu hơn, trân trọng hơn ngôn ngữ mà ông cha đã phải tốn bao nhiêu nước mắt và xương máu để giữ gìn trong suốt 4000 năm lịch sử đầy biến động, để truyền lại cho chúng ta đến ngày nay.

Hãy suy nghĩ. Hãy thay đổi.