Ngày xưa, con người mê tín vì khoa học chưa phát triển nên họ không thể giải thích được nhiều hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, bão lũ, nhật thực, nguyệt thực,… hoặc những hiện tượng trong xã hội con người như ốm đau, điên loạn, động kinh hay dịch bệnh. Do vậy con người phải dồn của cải, tiền bạc để cúng bái, lậy lục những thế lực siêu nhiên mà họ gọi là “ma”, “cô hồn”,…

Ngày nay, khoa học đã phát triển hơn. Con người đã lý giải được phần nào những điều trước đây được coi là huyền bí, bị điều khiển bởi quỷ ma. Tuy vậy, nếu ta dạo vòng quanh các chùa chiền, miếu mạo, phủ thờ, ta thấy lượng người vào ra cúng bái xì xụp tương đối đông đúc; khói hương bay mù mịt không gian. Hiện đang là tháng 7 âm lịch – được gọi là “tháng cô hồn” – nên lượng người này tăng lên đột biến. Thậm chí dịch Covid-19 đang hoành hành trên cả nước nhưng những tín đồ vẫn chen nhau cúng tiến ở một ngôi Phủ nổi tiếng tại Thủ đô.

Người đông quá, đồ cúng chất lên cao quá, hương khói mù mịt quá nên người đến cúng bái chả nhìn thấy mặt mũi người mình đang cúng bái đâu cả. Thậm chí người ngồi sau vái mông, vái lưng người ngồi trước. Thánh thần nào muốn hiển linh nghe lời cầu khấn trong bối cảnh xô bồ và tạp nham như vậy?

Những người đi cúng lễ chỉ biết chuẩn bị lễ lạc cho hoành tráng; sắm sanh tiền âm phủ, đô-la giả từng mâm, từng mâm; viết sớ cho dài để cầu xin đủ thứ chuyện trên đời. Chỉ cần rỉ tai nhau là chùa này thiêng lắm, phủ kia linh lắm là họ sẵn sàng lên đường đi ngay bất chấp xa xôi, bất chấp việc là họ chả biết chỗ đó thờ ai, lịch sử thế nào.

Đấy là ở ngoài xã hội, về đến từng hộ cá nhân, ta cũng thấy những điều na ná tương tự. Những bàn thờ thật hoành tráng. Những mâm cúng to vật vã với tiền âm phủ, đô-la giả, và các kiểu vàng mã như ngựa giấy, iPhone giấy, biệt thự giấy, osin giấy,… Theo cách hiểu của Phật giáo thì người chết sẽ về cõi Niết bàn hoặc xuống địa ngục. Theo Thiên chúa giáo thì người chết sẽ lên Thiên đàng hoặc xuống địa ngục. Do vậy, mục đích chính của việc cúng bái là cầu cho ông bà tổ tiên đã khuất được siêu thoát, được lên cõi Niết bàn hoặc Thiên đàng. Nếu họ siêu thoát rồi thì họ cần gì đến những thứ phàm trần kia? Khi cúng giỗ ông bà, tổ tiên, đã bao giờ người ta cầu chúc cho ông bà tổ tiên được siêu thoát, được an hưởng ở miền cực lạc? Hay người ta chỉ cầu ông bà phù hộ cho sức khỏe, phú quý, giàu sang hay tránh đi những điều tai ương dựa trên những mưu cầu ích kỷ của bản thân?

Tại sao người ta lại mê tín như vậy? Tôi cố gắng lý giải cho chính mình câu hỏi “TẠI SAO” này. Và câu trả lời mà tôi thấy hợp lý hơn cả là: họ thiếu lòng tin nơi bản thân và xã hội.

Tôi đã từng được đến thăm tư gia của một số người làm to. Có thể nói, tôi bị choáng ngợp bởi sự sang trọng và giầu có (về tiền bạc) của họ. Tôi bụng bảo dạ: “Thế này thì tiền đè chết người!”. Ông chồng làm to nên đem nhiều tiền về nhà. Bà vợ thì trở thành người đi cúng tiến chuyên nghiệp cho các đền thờ, miếu mạo, chùa chiền. Tôi quan sát thấy đằng sau sự giàu sang hào nhoáng là tâm trạng u uất, đau khổ không thể giải thoát được của bà vợ. Mặc dù căn nhà rất khủng nhưng hiếm khi thấy bóng người mà chỉ là những tiếng tụng kinh gõ mõ văng vẳng để cầu an. Bà vợ bất an cũng phải thôi. Bà ấy có 2 đứa con trai: một đứa trạc tuổi tôi, một đứa kém tôi 6 tuổi. Đứa đầu học giỏi, ngoan ngoãn nhưng đã không may qua đời vì bạo bệnh khi đang du học nước ngoài. Đứa thứ 2 thì giống như ông vua con, được chiều chuộng, được cung phụng đến tận răng nên chả biết làm gì, học hành chểnh mảng, yêu đương nhăng nhít, đốt tiền như rác, dốt đặc cán mai. Một thời gian sau đó thì ông chồng vào vòng lao lý vì tham nhũng. Nói thật, việc cầu cúng, dâng sao giải hạn với lễ vật chất lên như núi để dâng lên thần linh làm sao hóa giải được luật Nhân – Quả? Và đã là thần linh và các đấng siêu nhiên thì họ sẽ không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền vàng giả mà những con người mê tín này dâng lên. Thậm chí, họ còn bất bình và trừng phạt nặng nề hơn.

Tôi cũng đã đến thăm một người em là quản lý của một cơ sở giáo dục. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy quanh trường có nhiều bàn thờ, đặc biệt là bàn thờ chính – khá to lớn và nhiều lễ vật rườm rà. Tìm hiểu sâu hơn tôi mới biết người em này đã chạy theo ông đồng bà cốt nào đó nên đem bàn thờ, đồ cúng về trưng khắp trường. Tôi tự hỏi: “Cô bé này trình độ Thạc sĩ, du học đủ Đông Tây mà sao lại mê tín thế nhỉ?“. Quan sát và phân tích sâu hơn, tôi thấy rằng: bạn ấy mất niềm tin nơi bản thân, bạn ấy bị khủng hoảng niềm tin vì bị khủng bố về tinh thần hàng ngày. Giống như tôi, bạn ấy có khát vọng nâng tầm người Việt qua giáo dục. Nhưng khát vọng là một chuyện, cách làm và cách hiện thực hóa nó là một chuyện khác. Suy nghĩ thì cấp tiến nhưng cách làm thì lạc hậu nên bạn ấy lâm vào cảnh nợ nần, bị nhân viên phản bội và nói xấu, bị áp lực bởi sự kỳ vọng từ gia đình, bị phụ huynh rủa xả… Vì không còn ai bên cạnh cổ vũ, động viên và thấu hiểu nên bạn trẻ này rơi vào mê tín. Vì khủng hoảng niềm tin nên bạn ấy đưa ra những quyết định nông cạn về marketing dẫn đến mất hàng trăm triệu trong khi tiền đã cạn. Khi nói chuyện với em, tôi thấy sự nhiễu loạn trong tâm trí mặc dù em vẫn nở những nụ cười thật tươi. Khi làm việc với em, tôi thấy sự mất tập trung nghiêm trọng vì em bị cái điện thoại làm em phân tâm: em nhận điện thoại từ bất kỳ ai, em trả lời tin nhắn ngay khi nhận được tin nhắn. Em không biết đâu là ưu tiên hàng đầu về thời gian và sự tập trung trong một ngày làm việc. Là chủ trường nhưng tôi thấy em giống osin hơn. Em là người lãnh đạo nhưng tôi thấy em dành 100% thời gian để xử lý những việc vặt vãnh, không tạo ra hiệu quả ngắn hạn và đem đến những thành công dài hạn. Có lẽ vì làm nhiều mà không thấy kết quả, thậm chí giống như đang tự đào hố chôn mình nên em sợ hãi, mất niềm tin bản thân và rơi vào khủng hoảng tâm lý. Đây là công thức tuyệt vời để dẫn đến mê tín.

Kể ra một số câu chuyện trên để ta nhận thức được rằng, niềm tin vào bản thân là rất quan trọng. Khi ta tin vào bản thân, ta sẽ tin vào những điều tốt đẹp ngoài xã hội. Tất nhiên, xã hội nào cũng có cái tốt, cái xấu, nhưng nếu ta mất niềm tin nơi bản thân, ta sẽ coi xã hội là chiến trường khốc liệt – đầy rẫy sự bất công, sự lừa đảo và sự nghi kị. Ta sẽ rất dễ buông ra câu nói kiểu: “Xã hội nó thế ấy mà!”. Câu nói bâng quơ này làm chính người nói không chỉ mất niềm tin mà còn bóp nghẹt sự sáng tạo của chính họ. Nguy hại hơn nữa, câu nói này còn bóp nghẹt cả niềm tin và sự sáng tạo của những người xung quanh, đặc biệt là các em trẻ, nếu họ nghe thấy.

Do vậy, để bớt đi sự mê tín, chúng ta cần phải minh định được bản thân, phát huy được nội lực của chính mình. Chúng ta phải nghĩ và sống một cách chính trực. Sứ mệnh và ý nghĩa của cuộc đời nên là: biết đủ cho mình và chia sẻ những điều tốt đẹp & tích cực cho người khác. Chỉ như thế, các đấng thần linh, đấng siêu nhiên mới chứng được cho lòng ta, ý nguyện của ta. Hãy biến những nghi lễ tôn giáo, những ngày cúng lễ thành dịp để mỗi chúng ta bày tỏ lòng thành kính và biết ơn với tiền nhân và đấng tạo hóa, kết nối về nhân tâm, báo công về những điều có ích hay tích cực mà chúng ta đã tạo ra cho xã hội, và thỉnh cầu các đấng bề trên chỉ dạy cho ta nhiều hơn về sự minh triết và sự sáng rõ trên con đường đi tiếp theo. Hãy cúng lễ với những bông hoa thơm, những trái cây đơn giản và một tâm hồn cao thượng, một trái tim nhân văn, cách hành xử văn minh.

Tôi tôn trọng các thánh thần, các vị hiền nhân, các danh nhân anh hùng dân tộc, tổ tiên ta và ông bà ta đã khuất. Tôi tin vào quy luật vận động vĩ đại của vũ trụ: Nhân – Quả. Tôi tin vào mạch ngầm kết nối tâm linh của các thế hệ trước đến thế hệ hiện tại. Như vậy, ta cần kính trọng Mẹ thiên nhiên, các quy luật vận động tự nhiên và các bậc tiền nhân. Hãy dâng lên họ những điều cao quý tốt đẹp. Hãy sống như cách mà họ đã sống. Hãy cống hiến như cách mà họ đã cống hiến.